LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Dòng Truyền Giáo dân thánh Ca-rô-lô (Scalabrini) được thành lập năm 1887 bởi Đức cha Gioan Baotixita Scalabrini, Giám Mục Piacenza (Ý). Đây là một Hội dòng truyền giáo của các tu sĩ được mời gọi để rao giảng mầu nhiệm cứu độ cho những người di dân. Hiện nay, hội dòng có hơn 700 tu sĩ hiện diện trên 32 quốc gia thuộc tất cả các châu lục.Bối cảnh thành lập Hội dòng

Hội dòng truyền giáo thánh Ca-rô-lô được thành lập vào cuối năm 1887 với đặc sủng là phục vụ những người di dân Ý tại châu Mỹ.

scalabrini_porto_genova

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, vào thế kỉ XIX lục địa Châu Âu mà đặc biệt là nước Ý đã chứng kiến phong trào di dân mạnh mẽ hướng về Châu Mỹ. Từ năm 1876 đến 1925, có hơn 40 triệu người Ý đã rời bỏ đất nước. Hai nước Mỹ và Brazin là điểm chính đón nhận di dân Ý.
Tại Brazin, di dân Ý phần lớn xuất thân từ miền Bắc. Họ đến Brazin để thay thế cho những nô lệ tại các nông trại. Họ cũng mang theo những truyền thống tôn giáo riêng  bên cạnh những truyền thống tôn giáo Brazin, được đánh dấu qua các việc đạo đức bình dân và qua sự đa dạng của các nghi thức và các văn hóa tôn giáo.Di dân Ý tại Mỹ xuất phát chủ yếu từ miền Nam nước Ý. Những người di dân này phần lớn thuộc thành phần mù chữ và ít được giáo dục về tôn giáo. Họ đem theo bản sắc văn hóa tôn giáo của miền Nam và lòng sùng kính riêng (lòng đạo đức bình dân), nhưng không được hiểu và đón nhận bởi những người công giáo miền Bắc. Sự chia rẽ này làm cho kết quả của công tác mục vụ rất khó khăn.

Sự hình thành Hội dòng

Đánh động bởi tình trạng di dân nơi các giáo xứ của giáo phận, cha Scalabrini đã quyết định tìm cách giúp đỡ những người di dân và nâng cao nhận thức của xã hội và Giáo hội tại Ý thông qua các tài liệu và hội nghị. Ngài đã nghĩ đến việc hỗ trợ cho người di cư trước hết như một vấn đề của công cuộc truyền giáo. Ngài cho rằng việc nâng đỡ Đức tin của người di cư cũng cấp bách như việc truyền đạo cho những người không phải Kitô hữu. Chính vì thế, Ngài đã đích thân đến Rô-ma đệ trình với Đức Giáo Hoàng Leo XIII về ý định thành lập một Hội dòng giúp đỡ người di dân. Đề nghị này được mau chóng đón nhận.

Ngày 28 tháng 11 năm 1887, tại nhà thờ thánh Antonio ở Piacenza, Đức Cha Scalabrini nhận lời khấn của ba tu sĩ tiên khởi: Domenico Mantese, Giuseppe Molinari và Domenico Costa.

Sau đó Ngài soạn thảo các “quy tắc của Hội dòng Truyền giáo cho các thuộc địa của Ý đặc biệt là ở Châu Mỹ” và được phê duyệt bởi Thánh bộ Truyền giáo ngày 19 tháng 9 năm 1888 với thời gian thử nghiệm 5 năm.

early-scalabini-priest-Adolorata-1930s

Hội dòng từ năm 1888 đến 1905

Ngày 12 tháng 7 năm 1888, tại nhà thờ Thánh Antonio, Đức Cha Scalabrini đã trao Thánh giá truyền giáo cho mười tu sĩ và gửi họ tới Mỹ và Brazin. Những nhà truyền giáo tiên khởi của Hội dòng là những linh mục triều đã nhận lời mời gọi của Đức Cha Scalabrini và đã quyết định gia nhập vào công việc mục vụ cho người di dân. Tháng 7 năm 1892, ngôi nhà đào tạo ở Piacenza được thành lập (tu viện cũ của các sơ dòng Capuchin với tên là Christopher Colombo), số lượng các tu sinh gia tăng và các linh mục triều giảm.

Khi Đức Cha Scalabrini qua đời, Hội dòng có khoảng 100 nhà truyền giáo. Tuy thế, số lượng này vẫn không đủ để đáp ứng cho các nhu cầu truyền giáo tại các giáo điểm ở những khu vực địa lý lớn. Bên cạnh đó còn có một sự đa dạng trong phương thức mục vụ. Một trong những khía cạnh tranh luận nhiều nhất là làm cách nào thực hiện một chương trình mục vụ cụ thể cho những người di dân, với sự tự lập đối với các giáo xứ địa phương.

Sự ủng hộ của các tổ chức tại Ý cho công việc của Đức Cha Scalabrini không còn khi ngài qua đời. Tuy thế, hoạt động bảo vệ và phúc lợi xã hội vẫn được tiếp tục nơi các điểm truyền giáo của các tu sĩ Scalabrini với nhiều hình thức, để đáp ứng với nhu cầu của thời đại.

Khủng hoảng (1905-1924)

Khi Scalabrini qua đời, có rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết: quy tắc mới vẫn chưa nhận được sự phê chuẩn cuối cùng của Tòa Thánh. Dưới sự chỉ đạo của cha Vicentini (1847-1927), người kế vị đầu tiên của Đức Cha Scalabrini, do không thấy sự hợp thời của các lời tuyên khấn, ngài đã chuyển Hội dòng thành Tu hội vào năm 1908, với quy định mới trong đó các thành viên chỉ giữ lời khấn Trung Thành.

Người kế vị cha Domenico là cha Chenuil lại quan tâm đến việc gia tăng các nhà truyền giáo. Vì thế, từ tháng 11 năm 1919 đến tháng 8 năm 1920, ngài nhận vào Tu hội 37 linh mục và nhanh chóng gửi họ sang Châu Mỹ. Những nhà truyền giáo mới này, cùng với một số nhà truyền giáo từ các Tỉnh dòng, vì không thích ứng với đời sống cộng đoàn nên đã làm nghiêm trọng thêm tình trạng phân rẽ trong nội bộ. Từ những nhận xét tiêu cực của một số Giám mục, Tòa Thánh đã quyết định đặt Hội dòng dưới sự quản lý trực tiếp của Hội đồng Hồng Y. Từ năm 1924, Các Hồng YTrưởng của Hội đồng Hồng Y trở thành bề trên tổng quyền trên pháp lý của Hội dòng cho đến năm 1951.

Cải tổ (1924-1951)

Dưới sự phụ thuộc vào Hội Đồng Hồng Y và sau những tường trình tích cực của Giám mục Raffaello Rossi và của Giám mục Amleto Cicognani, Hội dòng bắt đầu chương trình cải tổ qua sự sàng lọc các thành viên, sự tập trung vào quản trị và thâu nhận ơn gọi. Năm 1936, bản hiến pháp mới của Hội dòng được phổ biến. Các chủng viện mới được mở tại Mỹ và  Brazin, Hội dòng bắt đầu phát triển.

Tại Châu Âu, giám mục Costantino Banini đã nhờ các tu sĩ Scalabrini tiếp tục công việc mục vụ giữa những người di dân. Những hoạt động mục vụ đầu tiên được diễn ra tại Pháp năm 1936 và tại Thụy Sĩ năm 1939. Năm 1940, hoạt động mục vụ đầu tiên cũng được tiến hành tại Argentina, nơi mà từ năm 1876 đến năm 1940 đã tiếp nhận gần 3 triệu dân nhập cư Ý.

Sau thế chiến thứ hai, phong trào di dân Ý được phục hồi và hướng đến nhiều quốc gia khác nhau. Trước hết tại châu Âu, đặc biệt là Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ. Di dân hướng đến Mỹ vẫn giữ chỉ số thấp, trong khi đó di dân hướng đến Argentina được ghi nhận với con số cao, nhưng chỉ kéo dài trong thời gian ngắn.

Ơn gọi Hội dòng trong thời gian này gia tăng, nhờ đó Hội dòng được coi là đã sẵn sàng để lấy lại quyền tự chủ và sẵn sàng đáp ứng cho sự mở rộng của phong trào di dân. Với Tổng công hội năm 1951, bề trên tổng quyền trở lại là một tu sĩ Scalabrini.

Phạm vi quốc tế của Hội dòng

Tại Tổng công hội năm 1963, Hội dòng quyết định mở rộng đối tượng phục vụ, không chỉ cho di dân Ý mà cho tất cả những người di dân nói chung. Cùng thời điểm đó, việc chuẩn bị cho Tổng công hội đặc biệt được khởi động để thích ứng các quy tắc của Hội dòng với tinh thần của Công Đồng Vatican II. Tổng công hội ban hành nguyên tắc mới, từ nhân tố “quốc gia” qua nhân tố “di dân”. “Thế giới, nơi chúng ta được mời gọi để rao giảng Mầu nhiệm Cứu độ là thế giới của người di dân” (Luật dòng, số 1).

Việc thay đổi mục tiêu của Hội dòng, sự đổi mới của Công Đồng và sự toàn cầu hóa của phong trào di dân bắt đầu từ những năm 70 ảnh hưởng đến tất cả các châulục. Hệ quả là khía cạnh quốc tế của Hội dòng cũng được thay đổi cả trong việc phục vụ người di dân lẫn trong việc thâu nhận ơn gọi. Hội dòng đã tìm được ơn gọi tại các vùng đất mới của phong trào di dân như Mexicô, Colombia, Bồ Đào Nha, Philippine, Indonesia, Việt Nam, Nam Phi.

Hiện tại, Hội dòng nhấn mạnh đến việc phục vụ cho những người di dân sống trong sự cùng cực của tình trạng di dân hiện diện tại các vùng ven đô thị, và tại những điểm gần biên giới. Ngoài ra, Hội dòng cũng thành lập các trung tâm nghiên cứu về di dân, xuất bản các tạp chí chuyên biệt và tham gia vào các cuộc thảo luận chính trị trên bình diện quốc gia và quốc tế để có thể giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi của người di dân hiệu quả hơn.